Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp về những mối đe dọa ảnh hưởng đến việc lưu trữ tại các doanh nghiệp.
3. Sự xâm nhập từ bên ngoài
Tháng 1-2007, nhà bán lẻ The TJX Companies Inc. cho biết các hệ thống giao dịch khách hàng của mình đã bị xâm nhập. Những vụ xâm nhập này diễn ra từ năm 2003 đến tháng 12-2006, tạo điều kiện cho hacker truy cập 94 triệu tài khoản khách hàng. Những thông tin bị đánh cắp này bị phát hiện sử dụng trong một âm mưu làm thẻ tín dụng giả. Vào mùa hè năm 2008, 11 người bị truy tố về những cáo buộc liên quan đến vụ việc. Đây là vụ xâm nhập máy tính và ăn cắp tính danh lớn nhất mà Bộ Tư pháp Mỹ từng truy tố.
Thiệt hại: TJX ước tính mức thiệt hại của vụ xâm nhập vào khoảng 256 triệu đô-la Mỹ, bao gồm chi phí sửa hệ thống, trang trải cho kiện tụng và các cuộc điều tra, nộp phạt… Tuy nhiên, có những ước tính rằng con số thiệt hại có thể lên đến 1 tỷ đô-la Mỹ, bao gồm cả khoản tổn thất từ việc mất mát khách hàng. Ngoài ra, Ủy ban Thương mại Liên bang còn buộc TJX phải chịu các cuộc kiểm tra an ninh của bên thứ ba trong 20 năm tới.
Hiện trạng: Một cuộc nghiên cứu năm 2008 của Ponemon xếp các vụ xâm phạm dữ liệu do hacker gây ra vào vị trí thứ 5 trong các mối đe dọa bảo mật. Thật ra, theo ITRC, khoảng 14% số vụ xâm phạm dữ liệu được ghi nhận trong năm 2008 có liên quan đến hacker.
Trong vụ của công ty TJX, hacker đã dùng kỹ thuật gọi là “war driving” – tức chạy xe lang thang để tìm kiếm mạng không dây Wi-Fi nào mắc lỗi bảo mật, sử dụng máy tính xách tay hay thiết bị hỗ trợ cá nhân số – để xâm nhập vào mạng không dây của công ty. Điều đáng nói là vào thời điểm bị xâm nhập, TJX đang dùng một phương thức mã hóa dưới chuẩn, không cài đặt bức tường lửa và mã hóa dữ liệu trên máy tính sử dụng mạng không dây. Điều này cho phép hacker cài đặt phần mềm trên mạng để truy cập dữ liệu khách hàng cũ được lưu trữ trên hệ thống, đồng thời chặn dữ liệu được gửi giữa các thiết bị kiểm tra giá cầm tay, máy đếm tiền và máy tính của cửa hàng.
Biện pháp đề phòng: Theo ông Muller, phương thức mã hóa WEP mà TJX dùng trên mạng không dây của mình là không đủ mạnh, thậm chí còn thua cả những phương thức mà nhiều người có mạng không dây ở nhà sử dụng. Ông nói: “Nếu bạn có thể truy cập dữ liệu ngay từ chỗ đậu xe thì rõ ràng bạn cần có một mức độ bảo mật và mã hóa dữ liệu cao hơn.” Một vấn đề khác là TJX còn cho lưu trữ thông tin tài khoản cũ thay vì xóa hẳn chúng.
4. Nhân viên bất cẩn
Vợ của một nhân viên làm việc tại nhà của hãng dược Pfizer cài đặt một phần mềm chia sẻ tập tin trái phép trên máy tính xách tay của công ty mà người này đang dùng. Hành động này khiến cho người ngoài có thể truy cập được những tập tin chứa tên tuổi, số an sinh xã hội, địa chỉ và thông tin về tiền thưởng của khoảng 17.000 nhân viên hiện nay và trước kia của công ty. Một cuộc điều tra cho thấy dữ liệu của khoảng 15.700 người đã bị sao chép trên một mạng ngang hàng và khoảng 1.250 người khác có nguy cơ bị lộ dữ liệu.
Thiệt hại: Pfizer Inc. thuê một công ty báo cáo tín dụng theo dõi thông tin liên quan đến tín dụng của những người bị ảnh hưởng trong vòng một năm và mua bảo hiểm để trang trải những chi phí mà mỗi cá nhân có thể gánh do hậu quả của vụ xâm phạm dữ liệu.
Hiện trạng: Cuộc nghiên cứu của Ponemon cho thấy những nhân viên bất cẩn là mối đe dọa số một đối với an ninh dữ liệu. Kết hợp những nhân viên này với phần mềm chia sẻ tập tin, mối đe dọa sẽ càng gia tăng. Một cuộc nghiên cứu của Đại học Darthmouth vào năm 2007 cho thấy dù nhiều công ty đã cấm chia sẻ tập tin trên mạng của họ, không ít nhân viên vẫn cài đặt phần mềm này trên máy tính ở xa và ở nhà.
Biện pháp đề phòng: Các công ty cần hoặc là cấm triệt để phần mềm chia sẻ tập tin ngang hàng hoặc là ban hành những chính sách về việc sử dụng chương trình này và có những công cụ để thi hành những chính sách như thế. Một điều quan trọng không kém là nói cho nhân viên biết về những nguy hiểm của mạng ngang hàng, làm thế nào để cài đặt một mật khẩu tốt và những biện pháp bảo mật thông thường khác.
5. Nhà thầu phụ
Tháng 11- 2008, Cơ quan An ninh kinh tế bang Arizona của Mỹ đã thông báo với gia đình của khoảng 40.000 trẻ em bang này rằng dữ liệu của chúng có thể đã bị xâm phạm sau khi xảy ra một vụ trộm vài ổ cứng tại một cơ sở lưu trữ thương mại. Những ổ cứng này được bảo vệ bằng mật khẩu nhưng không được mã hóa.
Thiệt hại: Theo Ponemon, những thiệt hại từ những vụ xâm phạm dữ liệu tại nhà thầu phụ còn cao hơn so với những vụ xâm phạm dữ liệu trong nội bộ – bình quân 231 đô-la Mỹ/hồ sơ khách hàng so với 171 đô-la Mỹ/hồ sơ.
Hiện trạng: Theo cuộc nghiên cứu thường niên của Ponemon, số vụ xâm phạm dữ liệu tại những công ty gia công bên ngoài, nhà tư vấn hay đối tác làm ăn chiếm khoảng 44% tổng số vụ mà những công ty tham gia cuộc nghiên cứu báo cáo vào năm ngoái, tăng 4% so với năm 2007. Trong khi đó, cuộc nghiên cứu của ITRC cho biết 10% vụ xâm phạm dữ liệu có liên quan đến nhà thầu phụ.
Biện pháp đề phòng: Các công ty cần soạn thảo những bản thỏa thuận mức độ dịch vụ kín kẽ và cụ thể, bảo đảm các nhà thầu phụ tuân thủ chúng và trừng phạt họ nếu họ không tuân thủ. Theo ông Semple, các công ty cũng cần yêu cầu nhà thầu phụ dùng biện pháp bảo vệ bằng mật khẩu hay mã hóa trong trường hợp cần dùng băng hay đĩa sao lưu dữ liệu của họ.
Theo quantrimang.com